Hung Thần Đồ

Chương 2



Chiêu Ngạn nghĩ đi nghĩ lại cả ngày, cảm thấy mua giường quá tốn kém cho nên đã đặt thêm một chiếc chiếu dưới sàn, ở giữa hai chiếc giường làm chỗ ngủ cho vị khách kia. Đến tối, Viêm Đằng trở về, Chiêu Ngạn hí hửng chỉ vào chiếc chiếu: “Từ nay ngươi ngủ ở đây đi.”

Viêm Đằng nhàn nhạt nhìn hắn, xong đến thẳng giường hắn tự tiện nằm xuống, chân này gác lên đầu gối chân kia. Chiêu Ngạn hét lên: “Ta nói là chiếc chiếu này, không phải cái giường đó. Cái giường đó là của ta.”

Viêm Đằng không khách sáo rút roi ra vung một cái cạnh chân hắn. Hắn nhảy nhổm lên: “Ngươi làm gì?”

“Còn nhiều lời ta sẽ đánh ngươi.”

Chiêu Ngạn nuốt nước bọt. Ngữ khí của tên này không hề đùa giỡn chút nào. Hắn đành phải uất ức ngồi bệch xuống chiếu. Nếu như ánh mắt có thể giết được người khác thì ánh mắt của hắn nhất định sẽ giết tên này trăm ngàn lần.

Lan Oanh nằm quay mặt vào trong tường cười trộm.

Khoảng canh ba, Chiêu Ngạn đang ngủ há miệng thì ngoài cổng quán có tiếng đập mạnh liên tục, còn cả tiếng la hét inh ỏi: “Chiêu đạo trưởng cứu mạng! Cứu mạng a!”

Chiêu Ngạn mắt nhắm mắt mở, dụi dụi bước ra mở. Hà trưởng thôn lập tức nhào vô ôm chặt hắn khóc sướt mướt: “Chiêu đạo trưởng, lần này ngài phải cứu tiểu nhi nhà ta. Nó vừa về đến nhà chưa lâu thì kêu la toàn thân đau nhức, gọi đại phu đến khám thấy hai tay sưng phù, chỉ mới qua vài canh giờ đã sưng tới mức không thể cục cựa, chỉ còn biết nằm im trên giường rên rỉ. Rõ ràng không phải là do người làm mà.”

“Được rồi, ông chờ một chút.”

Chiêu Ngạn quay vào quán rửa mặt cho tỉnh ngủ. Viêm Đằng cũng đã thức, chỉ có Lan Oanh vẫn còn ngủ say. Y nhìn Chiêu Ngạn nói: “Ta đi cùng ngươi.”

Chiêu Ngạn gật đầu. Y không đề nghị thì hắn cũng đang định kéo y theo cho bằng được. Chuyện lần này hắn có linh cảm không đơn giản chút nào. Cái thôn nhỏ này sợ rằng sẽ không còn yên ổn được nữa.

Chiêu Ngạn và Viêm Đằng đến nhà Hà trưởng thôn xem qua cánh tay của Hà Minh. Sự sưng phù này quả thật không phải do người làm. Vết sưng tím đen, da dẻ bị tróc một phần, gân máu gì cũng lộ rõ. Chiêu Ngạn mới sờ nhẹ đường gân một chút, Hà Minh đá hét lên như heo bị chọc tiết. Hà trưởng thôn và Hà phu nhân xám mặt. Hà trưởng thôn nói: “Chiêu đạo trưởng xin nhẹ tay chút. Tiểu nhi rốt cuộc là bị làm sao?”

”Lúc trước hỏi ông tại sao lại bị xác chết đuổi theo thì ông không chịu nói. Giờ thì hay rồi. Quý công tử đã bị thứ đó ếm.”

Hà trưởng thôn kinh hãi: “Thế phải tính sao?”

Hà phu nhân nắm lấy cánh tay áo hắn khóc bù lu bù loa: “Chiêu đạo trưởng xin hãy cứu Tiểu Minh của chúng tôi. Bao nhiêu tiền chúng tôi cũng không ngại, chỉ xin giữ lại mạng cho Tiểu Minh thôi.”

Chiêu Ngạn giả bộ ậm ờ. Hà phu nhân lập tức gọi gia đinh mang một túi bạc lên nhét vào tay hắn. Hắn vẫn ậm ờ: “Cái này…”

Hà trưởng thôn nói: “Cái này chỉ là tiền trà nước, đợi tiểu nhi bình phục nhất định sẽ càng hậu tạ Chiêu đạo trưởng hơn. Mong Chiêu đạo trưởng nghĩ cách cho.”

Chiêu Ngạn ước tính độ nặng của túi bạc, cũng tạm hài lòng. Viêm Đằng ở bên nói nhỏ vào tai hắn: “Cứu người quan trọng.”

Hắn cũng nói nhỏ lại: “Ngươi không biết đâu, hai phu thê nhà này giàu có nhưng bình thường rất bủn xỉn, không dễ ăn được của họ đồng nào, cho nên khi có cơ hội thì phải cướp của người giàu chia cho người nghèo.”

“Ai là người nghèo?”

”Ta nè!” Chiêu Ngạn tự chỉ vào chính mình.

“…”

Chiêu Ngạn biến ra một xấp bùa, lần lượt dán từng tấm lên hai cánh tay của Hà Minh, dán đến bịt kín cả da thịt. Hà trưởng thôn và Hà phu nhân ngơ ngác, hắn giải thích:

“Yên tâm, có những lá bùa này giữ mạng, Hà công tử tạm thời sẽ không sao. Tuy nhiên vẫn phải tìm ra căn nguyên của chuyện này thì mới giải trừ được hết chỗ sưng. Hà trưởng thôn, ông còn không nói thật thì ngay cả thần tiên cũng không cứu nổi con trai ông.”

Hà trưởng thôn gọi nha hoàn vào đưa Hà phu nhân tạm thời rời đi trước. Ông than thở một tiếng rồi nói: “Chuyện này…đều là do lòng tham của chúng tôi mà ra. Chẳng phải tuần trước đã xảy ra một trận sấm sét lớn hay sao? Nó vừa hay đánh trúng ngôi mộ của Đồng tướng quân. Khi hai phụ tử chúng tôi viếng mộ trở về, trên đường đi ngang mộ Đồng tướng quân, thấy quan tài bị đánh đến nhô hẳn lên mặt đất. Ban đầu chúng tôi chỉ lại xem vì hiếu kỳ, ai ngờ để tiểu nhi phát hiện nắp quan tài mở ra một góc, bên trong có một mẩu vàng lấp lánh, bèn giấu làm của riêng. Bỗng dưng, quan tài rung dữ dội. Phụ tử chúng tôi sợ quá chạy ra xa, sau đó thì nắp quan tài như bị ai đó đá văng, xác chết của Đồng tướng quân chớp mắt bật dậy rượt theo chúng tôi. Chúng tôi sợ quá chạy bạt mạng, trong lúc còn chưa biết phải chạy đến đâu thì thấy ba chữ Tam Thanh Quán hiện ra, bèn liều mình chạy vào cầu cứu đạo trưởng.”

“Ông xác định cái xác đó là Đồng tướng quân sao?” Chiêu Ngạn sờ mũi hỏi.

“Cái này…” Hà trưởng thôn tặc lưỡi. “Thật ra cũng không xác định được, bởi vì tôi chưa từng gặp qua ngài ấy, chỉ biết ngôi mộ này là của Đồng tướng quân. Xác chết sống dậy kia ngoài ngài ấy thì còn ai nữa?”

“Cho ta xem mẩu vàng đó đi.”

Hà trưởng thôn lật đật lấy trong ngực áo của Hà Minh, vừa đưa ra vừa nói: “Đây có thể là một mảnh gương hay gì đó, dù sao rất sáng bóng.”

Chiêu Ngạn đang định cầm thì bị Viêm Đằng nhanh tay hơn giựt lấy trước. Y quan sát mẩu vàng, không nói gì, nhưng từ ánh mắt dao động của y Chiêu Ngạn liền hiểu y đã phát giác ra gì đó.

“Được rồi, thứ này bọn ta sẽ giữ lại để điều tra.”

Rời khỏi nhà của Hà trưởng thôn, Chiêu Ngạn và Viêm Đằng quyết định đi xem mộ của Đồng tướng quân một chút. Chiêu Ngạn hỏi Viêm Đằng: “Phát giác ra gì rồi sao?”

Viêm Đằng cầm mẩu vàng đánh giá, nhất thời chưa định lên tiếng. Chiêu Ngạn hỏi tiếp: “Có khi nào là một mảnh gương giống như Ngô trưởng thôn nói không? Trông nó có thể soi rõ cả mặt người thế kia.”

“Chắc chắn không phải gương.” Viêm Đằng đưa mẩu vàng lại cho Chiêu Ngạn, nhìn ra xa: “Có thể là…một mảnh kiếm.”

“Ổ??? Có mảnh kiếm bằng vàng, lẽ nào là có cả một cây kiếm bằng vàng? Kiếm mà dùng vàng để nung, lại còn đánh bóng sáng loáng như mặt gương thế này, giá trị liên thành đấy. Ơ khoan đã…kiếm vàng…hình như ta từng nghe qua ở đâu đó rồi…”

Chiêu Ngạn đứng lại nghiền ngẫm. Viêm Đằng cũng đứng theo, chờ một hồi thì thấy hắn đập cái bốp lên lòng bàn tay cười ha hả: “Quả nhiên có nghe nói rồi. Trước đây có một vị thầy bói nào đó nói với Ngô tướng quân ông ta sẽ gặp nguy hiểm đến tính mạng, cần phải đúc một thanh kiếm vàng mang theo bên mình mới giải hạn được. Ngô tướng quân liền tin, huống hồ ông ta cực kỳ thích xa xỉ, do đó việc mang theo một cây kiếm vàng cũng chẳng biết ngại là gì. Bất quá, không biết vì sao sau đó không thấy đeo nữa, lại còn từ quan về sống tại thôn Tập Dao hẻo lánh này, tính tình cũng thay đổi không ít, điển hình như việc ông ta từ bỏ thói xa xỉ, sống cực kỳ giản đơn và kiệm lời.”



“Trong cùng thôn, vừa có một ngôi mộ tướng quân, vừa có một vị tướng quân ở ẩn sao?”

Chiêu Ngạn gật đầu: “Ta biết là nghe rất kỳ lạ, nhưng mà ngôi mộ kia là của Đồng tướng quân, mà Đồng tướng quân lại là huynh đệ kết bái của Ngô tướng quân, do chính Ngô tướng quân mang xác Đồng tướng quân về thôn này an táng. Bọn họ từng là hai vị tướng quân rất tài ba, học chung một thầy, còn kết bái nữa, tình nghĩa khắng khít. Trong trận chiến với người Hồ, cả hai được cử đi ám sát Hồ vương nhưng Đồng tướng quân bị bắt, do không chịu nổi tra tấn nên đã khai hết mọi chuyện, cuối cùng vẫn bị người Hồ giết. Ngô tướng quân sau đó cũng giết được Hồ vương, nhưng bị phục kích, về đến doanh trại chỉ còn lại nửa mạng. Tuy nhiên, nhờ vào đại công đó, đường thăng quan tiến chức của ông ta ngày càng rộng mở, mà ngay lúc này ông ta lại muốn từ quan, đem linh cửu của huynh đệ về thôn này rồi chọn một cuộc sống mai danh ẩn tích. Mọi người đều hết lời ca ngợi Ngô tướng quân, nói một kẻ phản quốc như Đồng tướng quân còn chả đáng được mai táng.”

Chiêu Ngạn và Viêm Đằng đi thêm một đoạn thì tới gần mộ Đồng tướng quân, nhưng xung quanh ngôi mộ đang có binh sĩ bao vây. Một người đàn ông trung niên, để râu ngắn, đang chắp hai tay ra sau lưng đi qua đi lại xem xét cỗ quan tài nằm trên đất. Người này vừa xoay mặt ra, Chiêu Ngạn và Viêm Đằng liền kinh ngạc. Đây là khuôn mặt giống hệt với những cái xác đuổi đến Tam Thanh Quán.

“Chúng ta có cần đến đó không?” Chiêu Ngạn hỏi.

Viêm Đằng lắc đầu: “Có lẽ họ đang tìm manh mối về cái xác mất tích. Chúng ta nên âm thầm điều tra, nếu để họ biết chúng ta có dây dưa với cái xác, e rằng sẽ kéo theo không ít phiền phức.”

“Ta không nghĩ Ngô trưởng thôn là người kín miệng đâu, sớm muộn cũng điều tra đến chúng ta và mẩu vàng chúng ta đang giữ.”

“Vậy phải xem mục đích chính của ngươi là gì? Muốn biết chân tướng hay muốn có tiền thù lao?”

“Tiền.” Chiêu Ngạn đáp mà không thèm suy nghĩ. “Chân tướng gì đó quan trọng hay sao? Cũng không thể thay thế cơm no bụng được.”

Viêm Đằng liếc hắn. Hắn không khách sáo nói: “Ta vẫn cho rằng ngươi là người giàu có. Người giàu có như ngươi chắc chưa phải đói ăn đói mặc ngày nào, cho nên ngươi sẽ không hiểu được nỗi ám ảnh vì tiền của ta đâu.”

“Người chưa từng bị đổ oan như ngươi chắc cũng không hiểu được mạng có thể từ bỏ, nhưng chân tướng còn quan trọng hơn cả tính mạng.”

“Ngươi từng bị đổ oan?” Chiêu Ngạn tò mò hỏi thêm một câu, sắc mặt của Viêm Đằng bỗng trầm xuống.

“Về quán thôi.”

Chiêu Ngạn ngăn lại: “Đi mua thức ăn trước, tiểu nha đầu ở nhà chắc cũng đói rồi. Hôm nay thu được ít tiền, sẽ để con bé ăn ngon một chút.”

Chiêu Ngạn đưa Viêm Đằng đến một tửu lâu gọi món. Mỗi người xách đầy hai giỏ thức ăn. Chiêu Ngạn nhìn giỏ thức ăn thực vui vẻ trong lòng, nói: “Oanh nhi gọi ngươi là thần tài sống không sai chút nào. Trước kia bọn ta đều là bữa đói bữa no, nhưng ngươi vừa đến, lập tức có bạc ào ào đổ vào túi ta. Quả nhiên người có tiền sống thanh thản nhất, thích ăn gì thì ăn, thích mua gì thì mua, không cần phải dè dặt đếm từng đồng xu một.”

Viêm Đằng nhìn hắn nhưng không nói gì.

“Sao hả? Muốn chê ta mặt dày phải không? Xác chết do ngươi giết nhưng ta lại ôm hết công lao? Nào nào, huynh đệ, ta cũng mua đồ ăn ngon cho ngươi luôn còn gì? Lát nữa về đến quán sẽ chia ngươi nhiều hơn. Đừng nhỏ mọn nha!”

“Không cần!”

“Sao thế?”

“Ta tu tiên, không cần ăn uống.”

Chiêu Ngạn chớp chớp mắt: “Tu tiên thật sướng nha. Nếu ta đầu thai được lần nữa, ta nhất định cũng đi tu tiên.” Chiêu Ngạn cười ha ha một tràng, tự tủi thân cho số phận bi ai của mình. Hắn là quỷ, không có luân hồi, không có đầu thai.

Viêm Đằng cho rằng hắn nói vu vơ, không đáp trả. Về đến Tam Thanh Quán, Lan Oanh mừng rỡ giở mấy giỏ thức ăn ra, có ngỗng quay, đùi dê hầm, thịt lợn rừng hấp, canh bát bửu, toàn là những món mà nàng yêu thích. Lan Oanh suýt nữa là khóc ra hai hàng nước mắt. Lần cuối cùng mà nàng được ăn chúng cũng phải gần chục năm về trước rồi. Nàng còn nhớ rất rõ lần đó ở thôn bên cạnh có án thảm sát diệt môn, Chiêu Ngạn đi cầu siêu cho hai mươi mấy mạng người mới được trả nhiều tiền mà đãi nàng ăn ngon như thế. Có điều, sau lần đó, chẳng còn án nào nghiêm trọng nữa. Thế là, hai con quỷ lại tiếp tục chuỗi ngày đói mốc đói meo cho đến tận giờ.

Lan Oanh ngồi gác chân lên ghế ăn như điên, chả quan tâm gì tới hình tượng. Chiêu Ngạn chỉ cười chứ không nhắc nhở nàng. Dù sao, là quỷ cả rồi, hình tượng đẹp đẽ hay không còn quan trọng gì nữa. Viêm Đằng lại cầm cán roi chỉ nhẹ vào đầu gối của Lan Oanh: “Tiểu nha đầu, ăn uống phải chú ý phong thái, cũng phải cân nhắc chừng mực.”

Lan Oanh cắn đùi ngỗng dính đầy mỡ nói: “Mỹ ca ca, muội ăn kiểu này quen rồi. Huynh kệ muội đi. Muội đâu phải là tiểu thơ đài các gì?”

Viêm Đằng kiên nhẫn dùng cán roi gạt chân Lan Oanh xuống: “Bây giờ muội còn nhỏ thì không sao, nếu cứ quen thói như vậy mai này sẽ khó gả đi.”

“Muội không định gả đi đâu. Nam nhân có gì tốt chứ? Đều háo sắc cả.”

Lan Oanh nói xong chợt thấy Chiêu Ngạn và Viêm Đằng đều nhăn mặt, bèn gỡ gạc: “Dĩ nhiên là trừ hai vị ca ca ra.” Bất quá, nàng cũng không ngoan cố gác chân lại ghế, suốt buổi đều ngồi ăn rất ngay ngắn.

Ăn xong, Lan Oanh lăn vào giường ngủ. Trong lúc Chiêu Ngạn thu dọn, Viêm Đằng chỉ lên bức tranh thờ Tam Thanh, nói: “Người ngồi ở phía bên trái cầm quạt chính là Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn, còn gọi là Thái Thượng Lão Quân, người ngồi ở giữa cầm viên ngọc là Ngọc Thanh Nguyên Thuỷ Thiên Tôn, người ngồi bên phải cầm gậy như ý là Thượng Thanh Linh Bảo Thiên Tôn.”

Chiêu Ngạn ngẩng đầu, giựt khoé mắt, này là đang chỉ dạy cho hắn sao?

“Ta đương nhiên biết.” Hắn sỉ diện nói.

Viêm Đằng lại hỏi: “Vậy ngươi có biết họ là học trò của ai không?”

“…”

“Hồng Quân Lão Tổ.”

“Hồng Quân Lão Tổ lợi hại lắm sao?”

“Đó là người sinh ra trước cả khi trời đất sinh ra, ngươi nghĩ lợi hại không?”

“Ái chà…lợi hại nhỉ? Vậy sao ông ta chỉ nhận ba học trò mà không nhận thêm nữa?”

“Ngươi đi hỏi ông ta đi.”

“…”



Viêm Đằng lại nói: “Bức tranh này tuy chưa được khai quang nhưng ngươi vẫn nên gỡ xuống. Thần giới có tục lệ cứ hai mươi, ba mươi năm một lần sẽ cử thần quan đến nhân gian kiểm tra khắp đền miếu thờ cúng chư thần, dù là miếu của một vị thần nhỏ nhặt thì bọn họ cũng buộc phải ghi đủ vào sổ sách, đừng nói đến miếu của Tam Thanh. Theo ta tính, từ đây đến ngày bọn họ xuống trần còn không xa.”

Chiêu Ngạn trợn mắt. Hắn không hề biết có quy định này. Nếu một thần quan nào đó tuỳ tiện đến miếu, chẳng phải thân phận của hắn và Lan Oanh sẽ bị lộ sao?

“Ngươi không đùa ta chứ?”

“Ta không vô vị đến thế.”

Chiêu Ngạn bỏ hết đống chén đĩa lật đật trèo lên bàn thờ định gỡ tranh xuống, nhưng rồi hắn bỗng ngưng lại, nhìn sang chỗ Viêm Đằng: “Ngươi biết bọn ta là ai sao?”

“Từ lúc ta mở mắt tỉnh dậy thì đã biết các ngươi không phải con người. Ngươi cũng chẳng có kiến thức gì cho ra dáng một đạo trưởng. Nhưng mà, dù các ngươi là ai đều không liên quan ta. Ta chỉ trùng hợp cần một chỗ dừng chân, thế thôi.”

Chiêu Ngạn cười ngây. Phải rồi, đều là bèo nước gặp gỡ, hợp thì tụ, không hợp thì tan, bọn họ là ai thì có liên quan gì y chứ? Nghĩ thế, tự nhiên hắn thấy nhẹ nhõm. Quan hệ không ràng buộc, không hứa hẹn luôn là quan hệ thoải mái nhất.

Chiêu Ngạn gỡ tranh xuống, nói: “Khi ta và Lan Oanh đến đây, cái quán này đã bị bỏ trống. Giờ không thờ Tam Thanh nữa thì bọn ta biết thờ gì? Cũng không thể nói với người khác là lập miếu mà chẳng thờ gì.”

“Thờ Quỷ Đế Điếu Huyền đi.”

Chiêu Ngạn há hốc: “Hả???”

“Tam giới đều nói Điếu Huyền si tình nhất, thê tử đã mất nhưng mấy trăm năm rồi hắn chưa từng bỏ cuộc, nhất quyết phải tìm ra chuyển thế của nàng ấy. Vì thế trong nhân giới bây giờ đã bắt đầu thờ hắn. Nực cười là không phải vì hắn cường mạnh nhất quỷ giới, mà vì hắn là thánh si ngàn năm hiếm gặp. Nam nữ đến miếu đều cầu hắn ban cho người chí tình chí ái giống hắn làm người yêu. Có người còn đặt cho hắn một biệt danh là Tình Đế.”

Chiêu Ngạn thật sự bị doạ sợ: “Vậy cũng được sao?”

Quỷ Đế đó! Quỷ Đế từng đánh nhau ngang tài ngang sức với đại điện hạ Triều Phượng của Thần giới. Ngoài Triều Phượng ra, ai ai nghe đến tên của Điếu Huyền đều sợ hãi xanh mặt, từ lúc nào lại trở thành tình lang trong mộng của người nhân giới thế này?

Chiêu Ngạn có biết một chút về Điếu Huyền. Trước khi Điếu Huyền trở thành Quỷ Đế từng yêu một cô gái loài người. Chỉ là, tuổi thọ của con người có hạn. Mặc dù Điếu Huyền đã dùng mọi cách để kéo dài thanh xuân cho cô gái nhưng rồi cũng đến lúc cô gái vẫn phải già yếu. Dù vậy, hắn chưa từng rời bỏ cô gái, kể cả khi đã trở thành Quỷ Đế. Quỷ giới vẫn thường thấy một nam tử dung nhan như ngọc dìu đỡ một bà lão tóc trắng bạc phơ đi khắp nơi cầu thuốc, cho đến một ngày người nam tử này bất lực ôm xác bà lão thét lên đau đớn bên bờ sông Vô Hối.

Điếu Huyền đến thần giới cầu xin thuốc cải tử hồi sinh cho thê tử hắn. Thần giới khinh thường hắn, ra lời nhục mạ, vì vậy khiến hắn điên loạn đại náo một trận long trời lở đất. Triều Phượng vì bảo vệ thần giới mà ra ứng chiến, nhưng bất phân thắng bại với Điếu Huyền, mà chính Triều Phượng cũng không có ý định đánh tiếp. Triều Phượng thương lượng với Điếu Huyền, đích thân đến Quỷ giới một chuyến để xem thi thể của thê tử hắn bất chấp sự khuyên can của chư thần. Đáng tiếc, thê tử của Điếu Huyền đã hồn lìa khỏi xác, bước vào luân hồi, không còn cách gì hồi sinh nữa. Triều Phượng tặng cho Điếu Huyền một sợi lông phượng hoàng thấm máu thê tử hắn, nói rằng người có thể khiến cho lông phượng hoàng phát sáng chính là chuyển thế của nàng. Từ đấy, Điếu Huyền bắt đầu bôn ba xuôi ngược đi tìm lại thê tử, tuy là ít khi coi sóc chuyện ở Quỷ giới nhưng cũng không có ai dám tạo phản. Huống hồ, dưới trướng của Điếu Huyền có Quỷ phán Tu Viên mặt lạnh như sắt, thay hắn quản lý Quỷ giới không chê vào đâu được. Tu Viên này có thể xem như là bạn chí thân của Chiêu Ngạn.

“Sao lại không được?” Viêm Đằng mỉm cười hỏi lại. Chiêu Ngạn cảm thấy nụ cười này gian xảo làm sao.

Viêm Đằng thu lại nụ cười: “Chẳng phải từ khi có ngài Quỷ Đế si tình, miếu Nguyệt Lão còn chẳng có hương hỏa bằng miếu Quỷ Đế sao? Ngươi thử thì sẽ biết.”

“…”

Chiêu Ngạn đi lấy giấy bút ra. Viêm Đằng hỏi: “Làm gì đó?”

“Vẽ hình Quỷ Đế. Miếu thờ thì phải có tranh chân dung chứ.”

“Ngươi gặp qua Quỷ Đế chưa?”

“Chưa.”

“Vậy làm sao vẽ?”

Chiêu Ngạn hỉnh mũi cười: “Ngươi quá xem thường tài năng của ta rồi. Ta ở Quỷ giới chuyên vẽ da bán kiếm tiền đấy.”

“Là sao?” Viêm Đằng khó hiểu hỏi.

Chiêu Ngạn giải thích: “Đám quỷ chết đói thì thích ăn, còn đám quỷ chết cháy thì thích nhất là đẹp. Chúng không có da thật, bởi vì cháy rồi thì làm sao còn nữa, thế là chúng sẽ đến tìm hoạ sư như ta vẽ cho chúng một bộ da, càng đẹp càng lấy nhiều tiền. Ta dám nhận là hoạ sư đứng nhì ở Quỷ giới thì không ai dám nhận đứng nhất đâu.”

“Vẽ ta xem thử.”

Một canh giờ sau, Chiêu Ngạn thực sự đã đem Quỷ Đế đỉnh đỉnh đại danh trong truyền thuyết vẽ thành phong hoa tuyệt đại, muốn bao nhiêu đẹp có bấy nhiêu đẹp, muốn bao nhiêu khí khái có bấy nhiêu khí khái.

Viêm Đằng ném bức tranh xuống đất: “Sai rồi! Hắn không phải như vậy.”

“Ngươi từng gặp qua?”

“Gặp rất nhiều lần.”

“Thế Quỷ Đế trông thế nào?”

“Tướng tá hung bạo, mặt mày xanh lè, mắt lồi ra ngoài, mũi khoằm, nanh bên trái dài hơn nanh bên phải.”

Chiêu Ngạn hít sâu: “Không phải chứ?”

“Chính là thế đấy. Vẽ đi.”

“…”