Trương Công Án

Chương 67



Đặng Tự không thể không cắt ngang câu nói của Trương Bình: “Chậm đã, làm sao ngươi biết nghi phạm là huyết mạch của Độ đại nhân? Độ đại nhân hy sinh đã mấy chục năm về trước. Chỉ là một dấu vân tay, làm sao có thể chứng minh?”

Trương Bình cúi người: “Quả thật là phải đợi chứng thực nhưng ý nghĩa của ấn ký trên ngón tay của Lưu đại nhân ứng với ‘Ngô thạch tử’.”

Ta là con của đá.

Đào Châu Phong nói: “Bản bộ đường vẫn thường nghe ân sư nói, một đời của Độ Cung đại nhân gắn với chữ thạch này rất nhiều. Chỉ là…Trương Bình à, giải thích thế này mặc dù nghe rất suông nhưng vẫn có chút gượng ép đó.”

Liễu Đồng Ỷ đột nhiên tiến lên trước, nói với quan xử án: “Bẩm các vị đại nhân, hạ quan từng nghe nói, lúc còn sống Độ đại nhân thường đi Thạch Lâm thiền tự. Nếu con dấu là chữ Phạn thì đi đến đó chắc có thể tìm ra được manh mối.”

Đặng Tự nhíu mày, tầm nhìn lại lướt đến chỗ cửa hông. Lát sau lại quay sang nhìn Đào Châu Phong và Bốc Nhất Phạm: “Thạch Lâm thiền tự cách Đại lý tự cũng không xa, cũng đã gần trưa, không ngại tạm thời bãi đường chứ?”

Đào Châu Phong và Bốc Nhất Phạm đều đồng ý.

Thị vệ mang Lưu Tri Hội đã được trói lại giải xuống, trước khi bị trùm đầu, Lưu Tri Hội lướt mắt nhìn Trương Bình.

Đặng Tự cùng Đào Châu Phong, Bốc Nhất Phạm và Lan Giác bước vào cửa hông, rồi trở lại nội đường nói với Trương Bình và Liễu Đồng Ỷ: “Hai người các ngươi mau đến Thạch Lâm thiền tự đi. Tìm thấy hay không thấy chứng cứ đều phải gửi tin về. Nếu không tra thấy gì thì tạm thời bỏ suy luận này ra khỏi vụ án.”

Trương Bình và Liễu Đồng Ỷ nhận lệnh.

Đặng Tự lại bước vào cửa hông, nhìn đám người Bốc Nhất Phạm cười nói: “Các vị đại nhân dùng bữa trưa giản tiện nhé?”

Bốc Nhất Phạm liếc ngang, trên bức tường thông đạo có một cánh cửa nhỏ đã bị đóng chặt. Bốc Nhất Phạm giả vờ không nhìn thấy gì cả, thu lại ánh nhìn cười đáp: “Vậy thì làm phiền Đặng đại nhân một bữa rồi.”

Lan Giác nói: “Hạ quan là nhân chứng, cùng dùng bữa với ba vị đại nhân liệu có hợp phép tắc không?”

Đặng Tự nói: “Đành phải để Lan Thị lang chịu thiệt rồi. Lần này đã nợ Lan Thị lang một ân huệ lớn, đợi kết án, bản tự làm chủ nhất định sẽ mời Lan Thị lang ăn một bữa đã đời!”

Lan Giác cười nói: “Đại nhân khách khí rồi, vậy hạ quan sẽ chờ thật đấy.”

Đặng Tự cùng Đào Châu Phong và Bốc Nhất Phạm vào nội viện phía trước, Thẩm Thiếu khanh và vài thị vệ dẫn một mình Lan Giác vào một căn phòng yên tĩnh khác.

Trương Bình và Liễu Đồng Ỷ ngồi xe ngựa rời khỏi Đại lý tự, thị vệ cưỡi ngựa mở đường phía trước, xe chạy như bay trên đường, chưa tới một giờ sau đã đến Thạch Lâm thiền tự.

Quan truyền lệnh đã đến trước, tự tăng mời những người thắp hương lui ra, để Trương Bình, Liễu Đồng Ỷ và các thị vệ bước vào.

Kỳ thực Trương Bình cũng không chắc chắn.

Đã là chuyện của mấy chục năm về trước, cho dù có chứng cứ, liệu có ở nơi này hay không?

Nhưng ánh mắt trước khi rời đi của Lưu Tri Hội đã cho Trương Bình biết, Lưu Tri Hội quả thật không biết thân thế của mình.

Đi lòng vòng trong Thiên Vương điện, Liễu Đồng Ỷ đột nhiên vui sướng giơ ngón tay chỉ về mé trước: “Trương huynh, mau lại xem!”

Trương Bình cũng nhìn theo, bất giác nheo mắt lại, Trên thạch bích chạm khắc câu kinh và ký hiệu loằng ngoằng.

Tự tăng dẫn đường nói: “Mấy chục năm trước, tệ tự và Hư Nguyên quán, Minh Luân thư viện cùng mở hội tam giáo Thích, Nho, Đạo. Tham dự hội này, một vị Độ Hàn Lâm đã viết tay thiên ‘Quang minh vô lượng’ trong ‘Phật nói A di đà phật Kinh’, Thanh Nhiên đạo trưởng của Hư Nguyên quán viết chương ba mươi của ‘Trung dung’, Không Viễn trụ trì của tệ tự lấy số từ một đến chín trong sách Phạn văn, chia thành ba hàng rồi đề thêm câu trong ‘Đạo đức kinh’, đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh vạn vật. Lấy đó để biểu thị cho tình hữu nghị của tam giáo. Sau đó dựa theo bút tích của họ mà khắc lại trên bức tường này.”

Độ Hàn Lâm, Độ Cung.

Trương Bình và Liễu Đồng Ỷ cùng nhìn nhau rồi đi đến trước bức thạch bích.

Trương Bình đưa tay ấn vào chữ “ngũ” (5) được viết bằng chữ Phạn kia nhưng không có gì bất thường. Liễu Đồng Ỷ cẩn thận xem xét câu kinh phật mà Độ Cung đã viết.

“Xá Lợi Phật. Ư nhữ ý vân hà. Bỉ Phật hà cố hiệu A Di Đà? Xá Lợi Phất. Bỉ Phật quang minh vô lượng, chiếu thập phương quốc, vô sở chướng ngại, thị cố hiệu A Di Đà.” [1]

Hắn gõ nhẹ lên chữ “thập” kia, đè xuống, cà xát cũng không thấy gì bất thường.

Trương Bình nhíu mày.

Độ Cung và Trần Trù đều giống nhau ở chỗ bị tà phái kia chọn trúng. Đối với Độ Cung đã dùng mỹ nhân kế cài mỹ nữ vào đánh cắp bản đồ thủ thành, hại chết Độ Cung, rồi lại mang xác Độ Cung đi an táng, nhất định là đã nảy sinh chân tình với Độ Cung.

Cô ta sinh ra con của Độ Cung, để lại một ấn ký trên tay đứa trẻ này, chắc chắn đã biết bản thân sẽ chết.

Vậy nếu cô ta có để lại thứ gì đó thì sẽ giấu thế nào?

Lưu Tri Hội được tà phái đó nuôi dưỡng, nếu ấn ký trên tay bị phát hiện, người của giáo phái đó sẽ sinh nghi, cũng sẽ đoán ra được. Thạch Lâm thiền tự mà Độ Cung thường đến, chữ ngũ trong văn Phạn giống như ấn ký đó, bài kinh mà đích thân Độ Cung viết, có chữ “thạch” đọc đồng âm với “thập”, đều có thể nghĩ đến ngay lập tức, quá rõ ràng rồi…

Vậy thì…

Ngô, thạch, tự.

Phạn văn ngũ, thạch bích, còn có…

Trương Bình đột nhiên quay phắt lại, chạy bổ đến chỗ bài “Trung dung” do Thanh Nhiên đạo trưởng viết.

“Trọng Ni tổ thuật Nghiêu Thuấn, hiến chương Văn Võ, thượng luật thiên thời, hạ tập thủy thổ. Thí như thiên địa chi vô bất trì tải, vô bất phúc đảo. Thí như tứ thời thác hành; như nhật nguyệt chi đại minh.Vạn vật tịnh dục nhi bất tương hại. Đạo tịnh hành nhi bất tương bội. Tiểu đức xuyên lưu; đại đức đôn hoá. Thử thiên địa chi sở vi đại dã.”[2]

Trương Bình mượn bội kiếm của thị vệ, dùng chuôi kiếm gõ nhẹ lên hai chữ “Trọng Ni”, ánh mắt sáng rực.

Ừm, diện tích của hai chữ vừa hay có thể giấu được nhiều đồ một chút.

Đặng Tự, Đào Châu Phong, Bốc Nhất Phạm, ba người dùng cơm xong thì im lặng uống trà. Bên ngoài cửa vang lên tiếng bước chân vội vã, Đặng Tự đặt tách trà xuống, một thị vệ xông đến trước cửa.

“Bẩm đại nhân, bồ câu ở Thạch Lâm thiền tự báo tin, có thu hoạch rồi!”

Đặng Tự lập tức đứng dậy: “Tốt, chiều nay tiếp tục thăng đường.”

“Tử nói thiên mệnh, Phật nói luân hồi nhân quả, Đạo gia nói mờ mịt nhưng trong vẫn có tinh (tinh hoa của Đạo). Có ba chứng này, thiên ý vân vân, hoặc giả có thể tin. Con ta nếu như có thể nhìn thấy lá thư này, sau khi thân thiếp chết đi ngộ nhỡ có thiên tất hối hận khôn cùng. Nhưng thiếp sa vào địa ngục vạn vạn năm, tội này liệu có biến mất?”

Đào Châu Phong thở dài: “Đúng là một nữ tử có tình cảm tinh tế, vẫn chưa đánh mất lương tri.”

Bốc Nhất Phạm gật đầu: “Còn thông thạo kinh văn nữa.”

Đặng Tự đặt lá thư trở lại bàn: “Độ đại nhân là người có học vấn uyên bác, nếu không có tài hoa làm sao có thể mê hoặc được ông ấy?”

Lưu Tri Hội nhìn chăm chăm vào lá thư trên bàn. Đặng Tự lật hộp gỗ ở trước mặt: “Nữ tử này quả thật đã để lại vật chứng vô cùng quan trọng.”

Hầu kết của Lưu Tri Hội chuyển động liên tục.

Bốc Nhất Phạm nói: “Đặng đại nhân, nhưng bản đài vẫn…có chút không hiểu. Rốt cuộc vụ án này là sao? Lưu Tri Hội cùng với đám Cô Gia Trang đó mưu phản à? Còn nữa…di tộc tiền triều là sao?”

Đặng Tự ra hiệu cho Trương Bình: “Ngươi nói đi.”

Trương Bình cúi người: “Hồi Bốc đại nhân, Cô Gia Trang không hề mưu phản, là họ bị vu tội. Nhất cử nhất động của Cô Gia Trang đều nằm trong tay triều đình thì làm sao có thể mưu phản được?”

Bốc Nhất Phạm khẽ gật đầu: “Ý của ngươi là, Lưu Tri Hội và đồng đảng của hắn có ý đồ mưu phản, giá hoạ cho Cô Gia Trang. Trong Cô Gia Trang có di tộc của tiền triều, chính là người tên Cô Thanh Chương mà Lan đại nhân cũng quen biết. Nhưng sau đó Cô Thanh Chương vì một lý do nào đó mà bị Lưu Tri Hội giết. Trong tay của Lan đại nhân có đồ vật của Cô Thanh Chương đưa cho ngài ấy, liên quan trọng yếu tới sự việc, do đó Lưu Tri Hội mới muốn hại Lan đại nhân. Nhưng sự thật là Lan đại nhân đã bàn bạc xong xuôi với Đặng đại nhân rồi, dùng vật này dể dụ Lưu Tri Hội lộ hành tung. Có phải vậy không?”

Trong cổ họng của Lưu Tri Hội phát ra âm thanh khanh khách. Đào Châu Phong vuốt râu nói: “Bốc đại nhân tóm tắt như thế, bản bộ đường cũng hiểu ra rồi. Ai, thật là rối rắm mà…hình như nghi phạm có điều muốn nói. Nhìn ánh mắt của y ta, có phải là muốn xem lá thư thân mẫu để lại không? Ai, mẫu tử thiên tính, cho dù đã trở thành phản tặc hung đồ nhưng tình thân ruột thịt vẫn còn. Cho y xem đi.”

Đặng Tự nói: “Chứng cứ đã có, có phải dùng vật này để dụ hắn mở miệng khai ra hay không cũng không quan trọng. Không gấp.”

Bốc Nhất Phạm nói: “Chỉ là bản đài vẫn không hiểu lắm. Tên Cô Thanh Chương kia nếu đã là di tộc tiền triều vậy sao còn đến ứng thí, Lưu Tri Hội đã giết y như thế nào, sao lại liên luỵ đến Lan đại nhân? Đồng đảng Lưu Tri Hội đã khổ công thực hiện như vậy, cho thấy loạn đảng có quy mô rất lớn.”

Trương Bình đáp: “Kỳ thực không thể xem là loạn đảng, mà cũng không thể nói là mưu phản.”

Trên công đường nhất thời im lặng như tờ.

Lan Giác câm nín liếc nhìn Trương Bình. Đúng thật là đầu óc vừa thông ở đây ở kia đã bít đặc rồi. Loạn đảng mưu phản là tội cực kỳ nặng, há có thể nói giọng nhẹ tênh phải hay không phải ư. Lời nói không khéo, đầu cũng theo đó mà đi luôn. Cho rằng chuyện này là đùa sao?

Một lát sau Đặng Tự lạnh lùng nói: “Loạn đảng mưu phản đã không thể phân biệt nữa rồi.”

Đào Châu Phong lặng lẽ nhìn Trương Bình nhướng nhướng mày, ra dấu hắn mau hùa theo câu nói đó rồi trả công đường lại cho Đặng Tự.

Nhưng Trương Bình không thể lĩnh hội được, lại mở miệng nói: “Giáo phái mà Lưu đại nhân tham gia còn cao hơn cả loạn đảng nữa.”

Bốc Nhất Phạm phì cười: “Cao hơn loạn đảng? Thế là gì nào?”

Trương Bình quay người lại nhìn Lưu Tri Hội: “Âm dương ngang dọc, biến hoá vô cùng, thảy có chốn về, hoặc nhu hoặc cương, hoặc mở hoặc đóng, hoặc trì hoặc trương.”

Ánh mắt của Lưu Tri Hội loé sáng. Trương Bình lại quay người về phía trên công đường: “Đại nhân, có thể tạm thời rút giẻ ra khỏi miệng nghi phạm không?”

Đặng Tự mặt vô biểu tình phất phất tay, thị vệ rút miếng giẻ trong miệng Lưu Tri Hội ra.

Lưu Tri Hội lạnh lùng nhìn Trương Bình: “Trong bức thư mà ngươi tìm thấy có viết à?”

Trương Bình đáp ngắn gọn: “Không. Đoán thôi. Xem ra đúng rồi.”

Lưu Tri Hội lại nhìn hắn một hồi rồi nhìn về phía trên công đường: “Bức thư này có thể cho tôi xem qua được không?”

Bốc Nhất Phạm nói: “Quả thật càng lúc càng rối bời rồi.”

Đặng Tự nhíu mày: “Cứ kiểu đây một câu kia một câu thì đến bản tự cũng rối tinh rối mù. Thế này đi, Trương Bình, ngươi cứ nói hết suy đoán và ngọn nguồn ra đi, rồi sau đó cứ thế mà tiếp tục. Lưu Tri Hội đã khẳng định câu mới nãy ngươi nói rồi, tạm thời cũng không cần hắn phải khai gì cả.”

Thị vệ lập tức nhét giẻ vào trong miệng của Lưu Tri Hội.

Trương Bình chỉ đành phải quay lại hướng công đường: “Bẩm đại nhân, tổ chức Lưu Tri Hội tham gia hạ quan cũng không biết nên gọi thế nào cho chuẩn xác, thôi thì trước cứ gọi là giáo phái đi. Sở dĩ không thể gọi là loạn đảng vì họ không chỉ gây tai hoạ cho bản triều không thôi. Thành viên giáo phái này rải khắp mọi nơi, mượn thuyết Âm dương ngang dọc thời Đông Chu để lập giáo, đến nay đã được mấy trăm năm, trải qua ít nhất ba triều đại rồi.”

Đông Chu Quỷ Cốc Tử, thiên cổ kỳ sĩ, biết âm dương, thạo mưu lược, cơ trí thông thiên.

Đệ tử Tô Tần, Trương Nghi, Tôn Tẫn, Bàng Quyên, mỗi người đều chọn chủ cho mình, mỗi người làm việc của họ, đều gọi là Chiêu sử sách.

“Âm dương ngang dọc nhất phái, xem xét thời thế, không trung với chủ nào. Giáo phái này cũng vậy, họ xem thế sự như một ván cờ, còn bản thân là kẻ nắm giữ con cờ và cục diện.”

“Vây cánh của giáo phái mở rộng khắp nơi, từ những người buôn bán cho đến triều thần quý tộc.”

Thậm chí là cả đế vương.

“Họ không chỉ vì một ngôi vị hoàng đế, mà là muốn nắm giữ giang sơn mấy đời.”

Phế lập đế vương, triều đại thay đổi, tất thảy đều phải nằm trong tay họ.

Ầm! Hình như phía trên công đường vừa có tiếng động vang lên.

Trương Bình khẽ ngước mắt lên. Đặng Tự, Đào Châu Phong, Bốc Nhất Phạm đều cứng đờ người, thần sắc ngưng đọng.

Một lát sau, Đặng Tự quét mắt sang bên hông, cứng giọng nói: “Nói tiếp đi.”

Trương Bình bèn tiếp tục: “Dương động thì đi, âm ngừng thì ẩn. Thế không thể chống đỡ, ẩn kỹ đợi thời; thời có thể chống, thì bèn lập mưu. Vào cảnh thái bình, họ thu quân dưỡng sức, âm thầm sắp đặt. Lựa chọn những người thích hợp để bồi dưỡng.”

Giống như những nữ tử trong thôn nữ nhi, là những người được huấn luyện để tiếp cận và khống chế người mà họ chọn. Những đứa trẻ do đám nữ tử này sinh ra đã trở thành con cờ của giáo phái ngay từ giây phút lọt lòng.

Lưu Tri Hội cũng như thế.

Cứ thế sinh sôi nảy nở, khuếch trương lớn mạnh.

“Lúc thái bình thịnh thế, bọn chúng cũng vì để làm loạn sau này mà mai phục lót đường trước như tung những tin đồn nhảm, hoặc cử ra những kẻ biết bói toán, tiên đoán số mệnh, thiên cơ chi nhân. Đợi khi thời cơ thích hợp thì nổi dậy làm loạn. Những lời đồn nhảm, ca dao lúc trước kết hợp với những hành động gây rối sẽ khiến cho mọi thứ càng thêm huyền diệu khó giải thích, tựa như bọn họ thực sự có thể biết rõ thiên mệnh.”

Kỳ thực chẳng phải thiên mệnh gì, mà là do người làm ra.

Cũng giống như việc bọn họ mượn những câu chuyện ma quỷ, khống chế những kẻ được chọn vậy.

Người phàm tục mãi mãi không thể ngờ tới sẽ có những kẻ phí bao nhiêu sức lực để làm bao nhiêu chuyện thế này.

Ngươi ngồi trên hoàng vị thì thế nào? Kỳ thực triều cục đã do ta nắm giữ.

Giang sơn nhất thời mang gia họ ngươi thì thế nào? Ta có thể tạo ra triều đại của ngươi, cũng có thể khiến nó lụi tàn.

Đây chính là truy cầu.

Đứng trên cả hoàng đế mang lại cảm giác giống như một vị thần vậy.

“Tuyên thị tiền triều chính là được giáo phái này phù trợ lập quốc. Hoàn, Dịch, Khánh ba nhà đều là người của giáo phái này. Nhưng sau khi phù trợ tiền triều lập quốc, có lẽ Dịch thị đã nảy sinh nghi ngờ với giáo phái này, về sau có thể thấy gia tộc này đã không muốn nghe lời giáo phái này khống chế Tuyên thị nữa, mà thật tâm muốn trở thành bề tôi trung thành. Cho nên hoàng đế tiền triều bị giáo phái, Hoàn thị và Khánh thị giựt dây mới mượn chuyện tranh đoạt vây cánh để diệt trừ cả tộc. Nhưng Dịch thị vẫn còn lưu lại huyết mạch về sau.”

Hoàn thị và Khánh thị theo sắp xếp của giáo phái dần dần làm tan rã triều đình một cách thầm lặng.

“Về sau tiền triều loạn đảng mâu thuẫn khởi dậy, dân họa không ngừng, nạn mất nước có lẽ đã nằm trong tầm khống chế của giáo phái. Nhưng người của Dịch thị đã đi trước giáo phái một bước, đã tìm đến Thái tổ hoàng đế.”

Bốc Nhất Phạm nghiêm nghị nói: “Thái tổ hoàng đế là chốn thiên mệnh trở về, chân long lâm thế. Cho nên vì thế mà năm xưa tà đảng cũng phải quy thuận, xây dựng thiên triều thiên thu vạn thế. Tuyên thị kia rốt cuộc chỉ là rồng nhép cho nên mới bị giáo phái gì đó khống chế, trách sao mới bảy đời đã mất nước.”

Đặng Tự hắng giọng, gục gặt: “Lời này của Bốc đại nhân rất tuyệt!”

Đào Châu Phong gật đầu: “Quá tuyệt vời!”

Lan Giác cũng thuận theo gật đầu chắc nịch.

Cổ họng Lưu Tri Hội lại phát ra tiếng khanh khách, chừng như đang cười chế giễu.

Trương Bình an tĩnh chờ bọn họ gật đầu xong hết mới nói tiếp: “Dịch thị thừa biết mưu mô sắp xếp trước sau như một của giáo phái đó cho nên đã hiến dâng cho Thái tổ hoàng đế cách phá giải. Rồi lại lén giữ lại huyết mạch Tuyên thị, sửa lại tên cư ngụ trong Cô Gia Trang.”

Chuyện của Cô Gia Trang, kỳ thực Đặng Tự, Đào Châu Phong, Bốc Nhất Phạm đều đã biết.

Nhưng điều bọn họ biết chỉ là Dịch thị khi tiền triều bị tiêu diệt đã hiến kế cho Thái tổ hoàng đế, nhưng lại khước từ con đường quan lộ, ở trong một thôn trang cách Kinh Thành không xa. Vì họ đã từng là thần tử của tiền triều, rồi lại giúp kết thúc tiền triều, nên triều đình không thể yên tâm được, cũng có ý nghi ngờ có phải bọn họ đang che giấu gì không. Dịch thị tự nguyện nằm dưới sự giám sát của triều đình, trồng trọt nộp thuế, không xuất đinh, không ra làm quan cũng không thông hôn với thôn lân cận. Triều đình cũng đúng hạn chọn ra vài thiếu nữ xứng đôi kết hôn với đàn ông trong thôn đó.

Huyện nha Nghi Bình cũng có người do triều đình sắp xếp để quản lý Cô Gia Trang.

“Ngoài việc lưu lại hậu nhân tiền triều ra, Dịch thị cũng không nói cho Thái tổ hoàng đế biết về giáo phái này.”

Bốc Nhất Phạm nói: “Nghĩ lại thì họ vẫn còn chút lòng trung với tiền triều và giáo phái đó, như thế là lừa gạt quân vương.”

Đặng Tự và Đào Châu Phong cũng hùa theo ừ hai tiếng, Lan Giác cũng gật gật đầu. Nhưng kỳ thực mọi người đều hiểu rõ, nếu như Dịch thị nói ra sự tồn tại của giáo phái đó thì Thái tổ hoàng đế nhất định sẽ tiêu diệt sạch sẽ bọn họ và giáo phái kia, chứ đừng nói gì đến việc bảo vệ huyết mạch của Tuyên thị.

“Dịch thị biết những việc này chắc chắn không qua mắt được giáo phái nên đơn giản thể hiện sự biết điều.”

Khắc tô tem bốn lá ba quả hạnh ở trong thôn, dùng những đoạn ngắn trong quán sử của giáo phái làm truyền thuyết của thôn.

“Giáo phái này ở trong bóng tối, bản triều chưa bị họ khống chế, nên họ ẩn nấp mở rộng, giằng co với Cô Gia Trang. Cho đến mấy chục năm về trước, có lẽ đã xảy ra một chuyện. Hạ quan không có chứng cứ chỉ dựa vào sự thật để phỏng đoán…đại loại là giáo phái này đã phát hiện ra trong Dịch thị có huyết mạch của tiền triều bèn phái người đến hoà đàm hữu hảo, dụ dỗ họ giúp giáo phái hoàn thành một âm mưu. Hoặc là, một âm mưu lớn nào đó của giáo phái này đã bị Dịch thị biết được thông qua con đường nào đó. Cô Thanh Chương thân là huyết mạch Tuyên thị sau khi biết rõ ngọn ngành đã muốn dùng sức của mình ngăn việc này lại.”

Cô Thanh Chương lén rời khỏi thôn, tham gia thi cử. Đợi đến khi Dịch thị phát hiện thì đã không thể ngăn cản được nữa. Nhưng cũng sợ triều đình phát hiện ra thân phận của y nên đã làm mấy việc như trục xuất y ra khỏi thôn, kỳ thực đều là vì muốn bảo vệ Cô Thanh Chương mà thôi.

“Cô Thanh Chương biết trong kỳ thi lần này có người do giáo phái cài vào. Y lấy mình ra làm mồi, muốn dụ kẻ đó ra, một lần nữa tìm hiểu mọi chuyện rồi bóc trần giáo phái này trước bàn dân thiên hạ. Người y nghi ngờ đầu tiên chính là Lan đại nhân.”

Lan Giác thần sắc không đổi ngồi ngay ngắn trên ghế.

Trương Bình nhìn y, hồi lâu, rồi cụp mắt xuống.

Bốc Nhất Phạm hỏi vô cùng hăng hái: “Sao lại nghi ngờ Lan Thị lang?”

Lan Giác mỉm cười nói: “Có thể là do hạ quan không giống người lương thiện chăng?”

Trương Bình đáp: “Là do phụ thân Lan đại nhân đã mất sớm.”

Những đứa trẻ do các nữ tử được giáo phái đó huấn luyện sinh ra đều chỉ có mẹ, không có cha.

“Sau khi ở chung với Lan đại nhân một thời gian, Cô Thanh Chương phát hiện bản thân đã nhầm rồi, Lưu Tri Hội mới là người y muốn tìm. Cô Thanh Chương tiếp cận Lưu Tri Hội là vì muốn tìm kiếm chứng cứ vạch trần thân phận của y ta. Y tính lấy lòng tin của Lưu Tri Hội trước, nhưng lại sợ thân phận hoàng tộc tiền triều của mình sẽ bị giáo phái dùng ngược lại để uy hiếp Dịch thị, cho nên đã lấy thân phận Dịch thị tiếp cận với Lưu Tri Hội. Hạ quan đoán rằng, có thể sau khi y lấy được lòng tin rồi thì sẽ nói ra thân phận của mình, tiến thêm một bước thu được nhiều thông tin hơn.”

Nhưng ngay từ đầu Lưu Tri Hội đã không chút nương tình mà đầu độc y.

“Cô Thanh Chương phát hiện bản thân trúng độc bèn quyết định giấu tiệt thân phận của mình, đem hoàng ngọc quả hạnh đại diện cho thân phận mình tặng cho Lan Giác. Vừa sợ bị lợi dụng liên lụy đến Dịch thị, nhưng cũng vừa là vì Lưu Tri Hội.”

Ánh mắt Lưu Tri Hội loé sáng.

Trương Bình nhìn hai mắt ông ta: “Hoàng tộc tiền triều đối với giáo phái quan trọng thế nào không thể điều tra tường tận được, giết nhầm người sẽ phải chịu hình phạt gì khẳng định Lưu đại nhân biết rất rõ, cho nên mới đến chỗ Lan đại nhân trộm quả hạnh. Lúc trước hạ quan cứ mãi không hiểu tại sao Cô Thanh Chương chưa bắt được Lưu Tri Hội đã bị sát hại rồi. Rõ ràng y đã định sẽ lấy cái chết của mình như là một chứng cứ vạch trần Lưu Tri Hội và giáo phái đứng sau kia. Hạ quan còn cho rằng là do Lưu đại nhân ra tay quá nhanh. Nhưng lúc này mới biết rằng, chắc chắn là do Cô Thanh Chương đã phát hiện ra thân phận của Lưu Tri Hội nên mới do dự.”

Hoặc cũng có thể y muốn tìm ra chứng cứ, đợi thời cơ cách thức thích hợp mới nói cho Lưu Tri Hội biết chuyện này, để ông ta thành đồng minh với mình.

Nhưng điều ngoài ý muốn đã kéo dài kế hoạch ban đầu của y.

Còn chưa nói ra thì độc phát thân vong.

Hay là lúc độc phát thân vong đã lựa chọn không nói ra?

Kỳ thực đáp án đã quá rõ ràng rồi.

Nếu như nói ra rồi, Lưu Tri Hội sẽ như thế nào?

Thế đạo sẽ bình yên hơn hay là khiến một người sống thanh thản hơn lâu hơn một chút nữa?

Lan Giác còn nhớ, có lẽ là trước lúc Cô Thanh Chương mất không lâu, y vừa kiếm được chút tiền từ chỗ Vương Nghiên trở về, tình cờ gặp Cô Thanh Chương trên đường.

Lúc đó y hơi run một chút nhưng sau giả vờ bình thản tiến lại: “Cô huynh, thật trùng hợp quá. Lưu huynh không đi cùng huynh à?”

Cô Thanh Chương cười cười: “Bội Chi, kỳ thi không còn xa nữa, ôn thi thế nào rồi?”

Lan Giác cũng đáp cho có lệ: “Cũng hòm hòm.”

Cô Thanh Chương nhìn y nói: “Bội Chi, huynh nhất định đậu.”

Lan Giác nhướng mày: “Tôi tin đấy, không trúng thì đi tìm huynh nha?” Lời vừa thốt ra mới phát hiện đây là những câu lúc trước thường hay nói đùa với Cô Thanh Chương, bây giờ không nên thân thiết như thế nữa chứ.

Cô Thanh Chương vui vẻ đến cười toét miệng, Lan Giác gượng gạo nhìn lảng đi chỗ khác, không tiếp xúc với ánh mắt của y ta nhưng lại nghe Cô Thanh Chương hỏi tiếp: “Đúng rồi Bội Chi, giả dụ như huynh vào triều làm quan, thì huynh lấy tế thế làm trọng hay là cứu người làm trọng?”

Lan Giác đáp: “Cứu mình là quan trọng nhất.”

Cô Thanh Chương ngẩn ra.

Lan Giác cười nói: “Ai, tôi không có cao thượng như huynh hay Lưu huynh đâu, nếu có vào triều cũng chỉ là một tham quan thôi.” Rồi nói qua loa hai ba câu thì chia tay.

Sơ Lâm, bây giờ nhìn lại, thì huynh đã chọn cái thứ hai rồi.

———-

[1] Xá Lợi Phật. Thầy nghĩ sao? Đức Phật kia tại sao lại có tên là A Di Đà? Xá Lợi Phất. Tại vì Đức Phật ấy là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được tất cả các cõi nước trong mười phương mà ánh sáng ấy không hề bị ngăn cách. Vì vậy nên ngài đựoc gọi là A Di Đà. (Theo trang ‘nguoiphattu.com’)

[2] Đức Trọng Ni (Khổng Tử) truyền lại đạo Nghiêu Thuấn đời trước, làm sáng tỏ luật pháp của Văn Vương, Võ Vương, trên thì giữ luật thời trời, dưới thì thuận theo thuỷ thổ. Ví như trời đất, không gì không giữ gìn nâng đỡ, không gì không che chắn bao trùm. Ví như bốn mùa luân phiên vận hành; ví như mặt trời mặt trăng thay nhau chiếu sáng. Muốn vật đều phát triển mà không làm hại nhau. Đạo lý đều lưu hành mà không chống lại nhau. Đức nhỏ như dòng sông chảy khắp; đức lớn thì dày dặn sinh hoá. Đó là cái chỗ làm cho trời đất lớn lao.