Trương Công Án

Chương 52



Đầu óc Trần Trù một mảng trống rỗng, chỉ có thể không ngừng lặp lại: “Quỷ! Có quỷ…có quỷ….quỷ…”

Khách trọ mấy phòng khác nghe ồn ào cũng lũ lượt kéo đến xem. Chưởng quỹ vội vã nói: “Khách quan, tiểu quán làm ăn đàng hoàng, lúc đầu chọn chỗ đã mời thầy pháp xem qua giúp, tuyệt đối không thể nào có quỷ yêu được, trước giờ cũng nào có chuyện ma quỷ làm trò. Nếu như có quỷ, có lẽ là do chính khách quan dẫn đến đấy!”

Trần Trù sững sờ quay đầu nhìn ông ta, chừng như tỉnh táo ra hẳn, bàn tay run rẩy, như bị bỏng mà vứt cái áo lông cừu xuống đất, hấp tấp vội vã buộc tay nải: “Trả phòng, tôi muốn trả phòng!”

Tất cả mọi người trong huyện nha đều cảm thấy, Trương Bình tiều tuỵ hẳn đi.

Kể từ khi Trần Trù bỏ đi, mỗi ngày Trương đại nhân đều dậy sớm hơn con gà trống, ngủ trễ hơn con cú mèo, cả ngày chẳng thấy cười, ngoại trừ vào kho hồ sơ ra, thì lại trở về phòng. Lúc khóa cửa một mình ở trong phòng, thường nghe thấy tiếng bước chân đi qua lại.. Mắt cũng hóp vào, xương gò má lộ hẳn ra ngoài, còn thường xuyên nhìn thấy chòm râu xanh đen đầy tang thương. Lúc và cơm, mắt đều nhìn thẳng. Thêm vào đó, Tri phủ đại nhân không muốn gặp, cũng không có duyên đi theo tuần tra, càng làm hắn thêm tội nghiệp. Mọi người nhìn thấy bóng người như du linh qua lại như con thoi dưới hành lang gấp khúc đều không khỏi âm thầm cảm thán, Tri phủ đại nhân gây nghiệp chướng nào vậy…

Trên dưới huyện nha đều vì lần tuần tra này của Tri phủ đại nhân mà dốc hết khí lực của tổ tiên ông bà. Sau trận tuyết rơi trời quang mây tạnh, Cao Tri phủ tiếp tục đi tuần, đi đến mấy thôn xa. Các thôn xóm đều kêu gọi trai tráng, quét dọn đường xá. Thiệu Tri huyện dặn dò, Tri phủ đại nhân không thích làm phiền dân, chỉ cần đường thông thoáng dễ đi là được, không cần phải sạch sẽ không hạt cát. Hương lại ngu dốt, khó định biết được chừng mực, kiên quyết ra lệnh để lại vài vệt tuyết động trên đường, trang trí ngẫu nhiên. Giữa trưa ánh mặt trời chiếu rọi, làm tuyết tan chảy. Đến tối, mặt đường đóng băng khó đi, không kịp trở về nha môn.

May mà Thiệu Tri huyện nhanh nhạy, sớm đã thông báo cho các thôn xóm chuẩn bị chỗ trú lại. Ban đêm cả đoàn tá túc trong một văn miếu. Văn miếu trong thôn không lớn, niên đại bức tượng phu tử trên sảnh Minh Luân ở chính điện đã lâu đời, nhưng không lấm một hạt bụi, đệm cói có vết dập đầu, đỉnh đầu có rất nhiều tàn hương. Cao Tri phủ liền khen ngợi nói: “Tấm lòng triều đình, giương cao đức trị đến nơi xa xôi.” Căn phòng ông ở là một gian nho nhỏ, giường gỗ đã cũ, chăn mền làm bằng vải thô trắng. Trưởng thôn xấu hổ nói, căn phòng này vốn để cho các học trò nhà nghèo hoặc khổ học trước kỳ thi ở, thế mà lại để Cao Tri phủ tá túc nơi này, thật vô cùng thất kính.

Cao Tri phủ đáp: “Bản phủ là môn sinh thánh nhân, phải nên ở phòng này.” Ngậm cười rờ rờ lớp chăn xanh đen, “Tốt lắm, tốt lắm.”

Thiệu Tri huyện vô cùng thích thú, sau khi ra khỏi chái nhà lại tán thưởng trưởng thôn lần nữa.

Trưởng thôn đáp: “Đều tuân theo chỉ dạy của đại nhân thôi ạ, ti chức không dám nhận công đâu ạ.”

Lại nói khẽ, đã kêu các thôn truyền lệnh xuống, trong khoảng thời gian Tri phủ đại nhân tuần tra, những kẻ không phận sự dám bén mảng đến văn miếu đều sẽ bị phạt trượng, đặc biệt là mấy thôn phụ muốn sinh con trai đến rờ chân thánh nhân. Ở mấy ngã đường đầu thôn cũng đã cho người mai phục nhằm ngừa cái vạn nhất ấy, tuyệt đối không để xảy ra thêm rắc rối nào.

Sáng sớm hôm sau, văn miếu dâng lên đồ ăn sáng. Gồm có cháo ăn với dưa cải tuyết, mấy món như lá vừng, thêm vài dĩa bánh, trứng mặn vùi đất. Trứng mặn là lấy trứng vịt hoang chế biến, so với trứng vịt nhà thì nhỏ hơn. Vịt hoang đẻ trứng có đầu xanh cánh tím, chỉ ở trong lau sậy hồ Bạch Đường gần văn miếu, thức ăn chủ yếu là cá trắng bạc trong hồ. Lúc chế biến, không dùng phân tro hoặc bùn đất, mà dùng rượu kê nhà nông và muối nhuyễn ngâm, rồi cất vào trong bình sứ. Lòng trắng trứng mềm bóng như ngọc cao, mặn nhạt vừa miệng, lớp dầu trong suốt, đổ vào trong chảo đáy bằng, nướng trên lò một lát sẽ có một cái bánh màu trắng to cỡ bàn tay vừa mềm xốp vừa giòn tan, nếu muốn có thể thêm chút đậu xanh, tinh bột mì vừa mới ra lò, mềm mềm dai dai, hương vị ngon tuyệt.

Mỗi món Cao Tri phủ thử một chút, khẽ gật đầu, rồi lại cầm chén lên, nhìn cháo trắng trong chén, hiểu ý cười một cái: “Chỗ của thánh nhân, dùng món này là hợp nhất.”

Trong đám tuỳ tùng có người hùa theo nói: “Tiếc là ngoài đại nhân ra chưa có ai từng nếm qua.”

Thiệu Tri huyện nói tiếp: “Người nhân ngồi trong tiệc, bởi lẽ không vẩn đục.”

Cao Tri phủ cười khà khà nói: “Không dám, không dám, kẻ này nào sánh bằng?”

Trưởng thôn chắp tay: “Đa tạ đại nhân khen thưởng bản thôn giáo hoá đã thoát khỏi ngu muội.”

Mọi người ngồi đấy đều cười vang vỗ tay, Cao Tri phủ cũng cười nói: “Mọi người chưa hiểu à, Tôn trưởng thôn đang nhắc nhở đấy, chứ quên tiền bữa ăn.”

Trưởng thôn lập tức lại chắp tay: “Ngón trò nho nhỏ này của ti chức quả nhiên không qua được mắt đại nhân, thật hổ thẹn! Bữa cơm này là ti chức mời, xem như lãnh phạt.”

Mọi người càng đập bàn cười to hơn.

Đoàn người lại tiếp tục khởi giá tuần tra, mọi thứ đều viên mãn tốt đẹp. Đến trưa thì trở về huyện thừa, khi đã vào cổng thành, Thiệu Tri huyện âm thầm thở một hơi nhẹ nhõm. Nhưng không ngờ rằng khi đi đến đường phía Nam thì cửa sổ trên lầu hai của một căn nhà bên đường bật mở, một người đàn ông râu dài mặt đỏ xuất hiện, xoay xoay một thanh đao lớn, xông vào kiệu quan của Tri phủ đại nhân thét gào: “Ha! Hây!”

Thị vệ lập tức hét: “Có thích khách!”

Hộ vệ trên nóc nhà nhất tề khai cung, người đàn ông cầm dao thoáng một cái chẳng thấy đâu nữa, thủ pháp nhanh nhẹn vô cùng. Đám hộ vệ nhún người đạp trên mái ngói, vây lấy khung cửa sổ kia, quan thống lĩnh đứng cạnh kiệu cao giọng thét: “Đại nhân có lệnh, bắt sống! Không được đả thương hắn! Còn phải thẩm vấn nữa!”

Thiệu Tri huyện siết nắm tay đầy mồ hôi ngó ra ngoài, căn nhà có cửa sổ mở là một quán trọ, Chưởng quỹ cùng tiểu nhị phủ phục trước tiệm, quỳ ở bên đường thỉnh tội. Không lâu sau, đám hộ vệ giải ra hai kẻ bị trói gô, dẫn đến trước kiệu của Tri phủ đại nhân. Thiệu Tri phủ thò đầu ra xem, tai kêu ù ù — thế nào mà lại là cặp ông cháu điên kia.

Trần Trù trả tiền phòng, ba chân bốn cẳng biến ra khỏi nhà trọ, hoảng loạn dắt ngựa chạy trên đường.

Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm, bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ ẩn giai không…[1]

Thái Thượng thai tinh, ứng biến vô đình. Trừ tà phược mị, bảo mệnh hộ thân. Trí tuệ trong vắt, tâm thần an bình…

Đại thần đại tiên, vãn sinh chỉ là kẻ phàm phu tầm thường, khó nhận hậu ý, trong vòm trời này có rất nhiều anh tài nổi bật, mong đại tiên sớm chuyển dời tâm ái!

Thế gian này vốn không có quỷ thần, đa phần có kẻ giở trò.

Nhưng chuyện này quá kỳ quái đi!

Tại sao lúc nào cũng là mình gặp phải mấy chuyện này chứ?

Trần Trù ngửa đầu khóc lóc, nhất thời nghẹn ngào, hít phải khí lạnh liền hắt xì mấy cái.

Không biết do tối qua ăn nhiều quá hay tại cứ suy nghĩ miên man mà trên đường đi chẳng mấy khi dừng lại, thậm chí khi mặt trời ngả về Tây cũng chẳng thấy đói lòng, đột nhiên, gã nghe thấy giọng hát ca.

“Sương mù mịt mờ, mây lành lạnh trôi, đường này thăm thẳm, đất này dưới chân…”

Trần Trù run rẩy, chỉ nhìn thấy dưới ánh chiều tà một ông lão râu dài mặc đạo phục cưỡi con lừa ốm, vừa hát vang vừa đi đến gần. Bốn bề là đồng hoang trắng phau phau, chẳng có nhà dân, sao lại chui đâu ra lão đạo nhân này? Trần Trù bất giác ngừng bước, dắt ngựa thận trọng đi đến bên đường.

Ông lão đi đến trước mặt, dừng ca hát, ngừng lừa lại: “Thí chủ, bần đạo hữu lễ rồi.”

Trần Trù nheo mắt đánh giá, chắp tay nói: “Tiểu sinh bái kiến đạo trưởng. Chỗ đồng hoang lạnh giá tuyết phủ đất dày này, đạo trưởng sao lại đi đến đây?”

Lão đạo cười khà khà nói: “Ngao du bốn phương, bất tri bất giác đến đây. Còn thí chủ sao lại ở chốn này?”

Trần Trù đáp: “Tôi muốn đi Tuyền Dương.”

Lão đạo gật đầu: “Phía trước đi mấy dặm nữa chính là ranh giới Tuyền Dương, nơi giáp ranh hai huyện đang có chợ tập trung rất náo nhiệt. Nếu như thí chủ muốn dừng chân thì rất tiện đấy.”

Trần Trù đáp: “Đa tạ, nhưng hướng mà đạo trưởng đi, phải mất mười mấy dặm mới có nhà dân, đêm đường khó đi, làm sao nghỉ ngơi?”

Lão đạo mỉm cười nói: “Cứ theo tự nhiên, đi được bao nhiêu thì bấy nhiêu vậy, khi dừng chân tự có duyên pháp. Tựa như thí chủ, tâm không cần chứa đựng nghi ngại, một khi duyên pháp đến, tất cả sẽ tự giải.”

Trần Trù không ngừng nhắc nhở mình, cẩn thận, cẩn thận nhưng vẫn không kiềm được nói: “Mấy lời này của đạo trưởng là ý gì?”

Lão đạo cười nhưng không nói.

Chẳng biết tại sao, Trần Trù nhìn người trước mắt, trong lòng bỗng có một cảm giác thân thiết và tin cậy không lý giải được, không giống nỗi sợ vô duyên vô cớ ban nãy, rồi gã lại không nhịn được mà lạy: “Không giấu đạo trưởng, trên đường đi tiểu sinh tình cờ gặp phải chút chuyện…rất khó tin.”

Lão đạo cười nói: “Đã là chuyện khó tin thì không cần phải nghĩ nhiều, không cần phải lo nhiều. Thí chủ là người phúc trạch thâm hậu, không cần phải lo mấy chuyện tai họa, thuận theo tự nhiên là được rồi.”

Trần Trù nghe mấy lời này như ám chỉ chuyện kỳ quái mấy ngày nay, gã giống như đang ở trong đám mây mù đột nhiên nhìn thấy ánh mặt trời vậy, rồi gã lại lạy một cái: “Tiểu sinh ngu muội, khó lòng nhìn thấu, cầu đạo trưởng khai sáng!”

Lão đạo cười khà khà nói: “Thí chủ miễn lễ, mới nãy bần đạo chỉ thuận miệng nói bậy thôi. Những chuyện về sau thí chủ sẽ sớm hiểu rõ cả, hà tất gì phải nhiều lời? Thôi được, cũng là có duyên, lão sẽ bốc cho thí chủ một quẻ.” Ông lão lấy ra một ống trúc, Trần Trù vội dâng tiền lên nhưng lão đạo phẩy tay, “Có duyên với thí chủ nên bần đạo không lấy tiền quẻ.”

Trần Trù nhặt lấy một thẻ, ký văn viết: “Nguyệt đáo thiên tâm nhân hữu vọng, ngưu lang trùng hợp thuộc thiên thành; không cần trằn trọc cầu lương ngẫu, thiên hỉ tòng nhân mệnh tự vinh.”

Trần Trù ngơ ra, lão đạo vuốt râu nói: “Quẻ này bần đạo cũng không cần giải thích nhiều, trong lòng thí chủ đã tự biết.” Rồi nói tiếng tạm biệt, lại cưỡi lừa đi mất.

Trần Trù sây sẩm tiếp tục đi về trước, không bao lâu sau quả nhiên nhìn thấy ở làng quê kia có hai ba con đường nhỏ, quan gia dịch quán, quán trọ, tửu quán, cửa tiệm…gì cũng có đủ. Đã đốt hết đèn lên, một dải đèn đóm rực rỡ chói sáng, náo nhiệt đến không ngờ.

Trần Trù đang muốn tiến vào quán trọ thì bỗng nghe thấy một trận pháo nổ đì đùng, bất giác hỏi: “Giờ này rồi mà nhà ai còn tổ chức tiệc vui thế?”

Tiểu nhị đáp: “Không phải tiệc vui đâu, là hội làng trong miếu thổ địa đấy. Thổ địa ở chỗ chúng tôi cực kỳ linh nghiệm, năm nào giờ này làm hội làng đều dâng vãn cung.”

Trần Trù suy nghĩ, mấy ngày này gặp đủ chuyện kỳ dị cổ quái rồi, nên đi miếu thắp hương thôi, nói không chừng còn có thể giải được. Gã bỏ hành lý trong phòng, rảo đến chỗ diễn tấu, đi chưa được mấy bước thì nhìn thấy miếu thờ, nhan khói toả khắp trời, đầu người chen chúc khắp nơi, nam nữ già trẻ cầm lụa đỏ nến thơm đẩy tới kéo lui mà đi. Trần Trù vô thức bị dòng người đẩy vào trong miếu, nên gã cũng mua hương bái lạy. Thần toạ cạnh bên có một cái bàn, trên bàn bày ống thăm quẻ đồ, Trần Trù động lòng, đi đến bên bàn: “Đạo trưởng, có thể bốc quẻ không?”

Lão đạo dựng thẳng hai ngón tay lên: “Một quẻ mười văn.”

Trần Trù trả tiền, cầm ống thăm lên, nhắm đúng khe hở, quỳ trên đệm cói trước tượng thần, lầm rầm cầu nguyện lắc ống, một quẻ thăm rơi lạch cạch xuống đất. Trần Trù nhặt lên đem đưa cho đạo nhân.

Lão đạo cười nói: “Vận khí của thí chủ tốt thật, quẻ này là thượng thượng đại cát đấy.” Rồi đem tờ giấy ký văn đưa cho Trần Trù.

Trần Trù mở ra xem, trong lòng đánh bộp một cái.

Trên tờ giấy đỏ viết bốn dòng: “Nguyệt đáo thiên tâm nhân hữu vọng, ngưu lang trùng hợp thuộc thiên thành; không cần trằn trọc cầu lương ngẫu, thiên hỉ tòng nhân mệnh tự vinh.”

Dòng chữ nhỏ bên dưới viết —- “Tiền tình phí hoài không cần ca thán, tơ hồng sớm đã định nhân duyên; quế hoa chậm nở sau hạnh hoa, bước lên thỏ ngọc tới Quảng Hàn.”

Con sóng trong lòng Trần Trù khẽ khuấy động, gã không khỏi ngẩng đầu lên, đỉnh đầu hệt như bị sét đánh khiến gã một trận hoảng hốt.

Tượng thổ địa trên thần điện kia râu dài ba sợi, mắt mũi hiền hoà, giống hệt như lão đạo mà gã tình cờ gặp buổi chạng vạng chiều nay!

Trống nổi ba tiếng, Tri phủ đại nhân thăng đường.

Thiệu Tri huyện đứng hầu bên cạnh, các quan lại trong huyện nha với Trương Bình đứng đầu, đứng dưới công đường theo dõi.

Đám thị vệ áp giải hai con người bị trói chặt như đòn bánh tét vào công đường.

Thuốc màu xanh đỏ trên mặt Đặng Tự đã được chà đi không ít, lộ ra sắc vàng nhạt vốn có của da, một bên bộ râu đẹp đẽ ngay ngắn ở phần cằm đã bị kéo lệch xuống tận eo, ông nhìn xung quanh: “Ý, sao lại quen thế này?” rồi lại trừng mắt hiên ngang nói, “kẻ ngồi trên kia là ai?”

Cao Tri phủ đạp bàn một cái: “Phạm nhân to gan, bản phủ vẫn chưa đặt câu hỏi mà lại dám hỏi ngược lại à?”

Liễu Đồng Ỷ ôn hoà nói: “Tướng quân, đây là đại điện Đông Ngô nên tất nhiên tướng quân sẽ thấy quen. Đã đơn thân độc mã đi gặp, thì sao lại không bình thản đứng đây, để xem bọn họ giở trò bịp bợm gì.”

Đặng Tự khẽ nhíu mày, giống như đang trầm tư, rồi đột nhiên hai mắt khẽ nheo lại: “Quan mỗ một đao đến đây gặp, thì Quý Thường, sao ngươi lại ở đây? Sao lông mày của ngươi lại có màu đen?”

Liễu Đồng Ỷ đáp: “Quân sư lệnh thuộc hạ âm thầm đi theo. Do sợ trời tuyết cùng màu, tướng quân nhìn không rõ mặt của thuộc hạ nên mới cố ý nhuộm màu.”

Đặng Tự lại nheo mắt: “Ồ. Nhưng Quan mỗ nhớ, ta một đao đến đây hình như không phải lúc trời đổ tuyết.”

Liễu Đồng Ỷ đáp: “Tướng quân làm việc vĩ đại, cảm trời động đất, nên đã đổ tuyết đúng lúc này.”

Cao Tri phủ vùi đầu vào trong ống tay áo, Thiệu Tri huyện nói: “Đại nhân?”

Cao Tri phủ đập bàn một cái: “Ai đó đến nói cho bản phủ biết, rốt cuộc chuyện gì đang diễn ra dưới công đường thế?”

Thiệu Tri huyện giọng run rẩy đáp: “Là một cặp chú cháu bị điên ạ, hạ quan đã từng bắt giữ hai người này.”

Đặng Tự nói: “Quý Thường, ngươi nghe chưa hả? Bọn họ gọi ta ngươi là gì? Thanh long yển nguyệt đao đâu rồi?”

Liễu Đồng Ỷ nói: “Tướng quân xin bình tĩnh, xin đừng trúng kế khích tướng của Ngô Đông.”

Cao Tri phủ lại đè tay lên trán, tay áo che mặt, như thể đang thuận khí. Thiệu Tri huyện vội vã thấp giọng nói: “Cặp đôi chú cháu này hình như chỉ có ông chú bị điên, thằng cháu thì vẫn bình thường.”

Cao Tri phủ phẩy phẩy tay: “Vậy thì đem giam ông chú trước đi, để đứa cháu lại bản phủ thẩm vấn.”

————–

[1] Dịch nghĩa: Ngài Bồ Tát Qúan Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không.